Chỉ định một nước trong đơn Madrid có tác dụng như nộp đơn nhãn hiệu tại nước đó, tính từ ngày đăng ký quốc tế (hoặc ngày ghi nhận chỉ định sau); nếu nước đó không gửi từ chối trong thời hạn 12 hoặc 18 tháng, nhãn được bảo hộ ở đó như thể đã được cấp đăng ký quốc gia. Mỗi nước tự xét theo luật của mình; kết quả ở nước này không quyết định kết quả ở nước kia.
Người mới nhận giấy chứng nhận đăng ký quốc tế từ WIPO thường nghĩ việc đã xong: "nhãn của mình đã được đăng ký quốc tế". Thực ra giấy đó chỉ xác nhận đơn đã vào sổ, kèm danh sách các nước được chỉ định. Mỗi nước trong danh sách là một quá trình thẩm định riêng, có thể kết thúc bằng chấp nhận, từ chối một phần hay từ chối toàn bộ. Bài này giải thích cơ chế đó để bạn đọc đúng tình trạng nhãn của mình.
Đăng ký quốc tế là một bó quyền quốc gia
Cách hình dung đúng nhất về đăng ký quốc tế là một bó dây: mỗi sợi là quyền ở một nước chỉ định, được buộc chung bằng một số đăng ký, một ngày đăng ký, một lịch gia hạn và một chủ sở hữu. Bó dây giúp quản lý gọn, nhưng từng sợi vẫn có độ bền riêng. Một sợi đứt vì nước đó từ chối thì các sợi khác không đứt theo.
Hình ảnh bó dây cũng giải thích vì sao bảo hộ ở mỗi nước tuân theo luật nước đó: điều kiện bảo hộ, căn cứ từ chối, cách xử lý xung đột với nhãn có trước, yêu cầu sử dụng để duy trì, cách thực thi quyền khi bị xâm phạm. Madrid chỉ thống nhất phần thủ tục nộp và quản lý; nội dung quyền vẫn là quyền quốc gia.
Vì thế, khi trao đổi với đối tác hay nhà đầu tư, đừng nói "nhãn đã được bảo hộ quốc tế" chung chung. Nói chính xác là "nhãn có đăng ký quốc tế chỉ định các nước A, B, C; đã được chấp nhận ở A và B, đang chờ ở C". Cách nói này phản ánh đúng thực trạng và tránh hiểu lầm khi có tranh chấp.
Một nước được chỉ định có thể đi qua những trạng thái nào
Bảng mô tả các trạng thái phổ biến của từng nước chỉ định sau khi đăng ký quốc tế được ghi vào sổ. Tên gọi trên công cụ tra cứu của WIPO có thể khác đôi chút; cách đọc chi tiết từng sự kiện có danh mục riêng về tra và theo dõi.
| Trạng thái | Nghĩa là gì | Doanh nghiệp nên làm gì |
|---|---|---|
| Đã chỉ định, đang chờ | Nước đó đã được thông báo, đang trong thời hạn thẩm định | Ghi lại thời hạn từ chối của nước đó, chưa nên tung hàng số lượng lớn nếu thị trường quan trọng |
| Từ chối tạm thời | Nước đó nêu lý do chưa chấp nhận toàn bộ hoặc một phần | Làm việc với đại lý tại nước đó để trả lời trong hạn |
| Tuyên bố cấp bảo hộ | Nước đó xác nhận nhãn được bảo hộ cho toàn bộ hoặc phần danh mục nêu | Lưu hồ sơ, cập nhật bảng quản lý nhãn |
| Không có thông báo gì sau thời hạn | Ở nhiều nước, im lặng sau thời hạn được hiểu là chấp nhận | Kiểm lại trên công cụ tra cứu, hỏi đại lý nếu thị trường quan trọng |
| Từ chối chính thức | Nước đó giữ quyết định từ chối sau khi xem xét | Cân nhắc khiếu nại theo luật nước đó, đổi chiến lược hoặc nộp lại |
Mỗi nước chỉ định có thể đang ở một trạng thái khác nhau tại cùng một thời điểm. Bảng theo dõi nội bộ nên có một dòng cho mỗi nước, không phải một dòng cho cả đăng ký quốc tế.
Ngày có hiệu lực ở nước chỉ định tính thế nào
Với các nước được chỉ định ngay trong đơn quốc tế, bảo hộ được tính từ ngày đăng ký quốc tế. Ngày đăng ký quốc tế, theo nguyên tắc chung, là ngày cơ quan xuất xứ nhận đơn quốc tế, nếu hồ sơ được chuyển tới Văn phòng quốc tế trong thời hạn quy định và không có thiếu sót quan trọng; nếu không, ngày có thể lùi về sau. Chi tiết nên đối chiếu thông tin hiện hành của WIPO và Cục Sở hữu trí tuệ.
Nếu đơn quốc tế có khai quyền ưu tiên theo Công ước Paris, dựa trên đơn Việt Nam nộp trong vòng 6 tháng trước đó, thì ở các nước chỉ định, thứ tự ưu tiên của bạn được tính theo ngày nộp đơn Việt Nam. Đây là điểm rất có giá trị khi có người khác nộp nhãn tương tự ở nước ngoài trong khoảng giữa hai ngày.
Với nước được chỉ định thêm về sau, bảo hộ ở nước đó tính từ ngày ghi nhận chỉ định sau, không lùi về ngày đăng ký quốc tế gốc. Vì vậy, chỉ định thêm về sau tiện về thủ tục nhưng không cứu được thứ tự ưu tiên. Thủ tục chỉ định thêm thuộc phần quản lý đăng ký quốc tế; ở đây chỉ cần nhớ hệ quả về ngày.
Mỗi nước tự xét: những khác biệt đáng biết
Thẩm định căn cứ tuyệt đối. Hầu hết các nước đều xét nhãn có khả năng phân biệt không, có mô tả hàng hoá không, có trái trật tự công cộng không. Nhưng cách đánh giá khác nhau, nhất là với từ ngữ: một từ tiếng Việt vô nghĩa với người bản xứ có thể dễ được chấp nhận hơn ở nước này, nhưng lại là từ thông dụng với cộng đồng người Việt ở nước khác.
Thẩm định nhãn có trước. Có nước tự tra và từ chối nếu thấy nhãn tương tự đã đăng ký; có nước chỉ xét khi chủ nhãn có trước phản đối. Ở nhóm thứ hai, không bị từ chối chưa chắc là không có xung đột, chỉ là chưa ai lên tiếng.
Yêu cầu về danh mục. Mức độ rõ ràng chấp nhận được cho thuật ngữ hàng hoá, dịch vụ khác nhau. Thuật ngữ được chấp nhận ở nơi này có thể bị yêu cầu viết lại ở nơi khác.
Yêu cầu riêng khi chỉ định. Một số nước đòi kèm tài liệu riêng ngay khi chỉ định, như Hoa Kỳ yêu cầu tuyên bố ý định sử dụng nhãn. Danh sách yêu cầu riêng và cách khai nên đối chiếu thông tin hiện hành của WIPO.
Ví dụ giả định: một đăng ký, ba kết quả
Ví dụ giả định: Công ty Nước Mắm Biển Xanh ở Khánh Hoà có đăng ký quốc tế chỉ định Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc. Sau hơn một năm, công cụ tra cứu cho thấy Nhật Bản đã tuyên bố cấp bảo hộ; Hàn Quốc gửi từ chối tạm thời vì có một nhãn đã đăng ký gần giống cho nước chấm; Úc không gửi thông báo nào sau khi hết thời hạn.
Người phụ trách xuất khẩu báo cáo lên ban giám đốc rằng nhãn "đã được bảo hộ quốc tế". Báo cáo đó sai ở hai điểm: Hàn Quốc chưa chấp nhận, và kết quả ở Úc cần được kiểm lại chứ không mặc nhiên coi là xong. Ban giám đốc dựa vào báo cáo để ký hợp đồng phân phối độc quyền ở Hàn Quốc, trong khi quyền nhãn ở đó chưa chắc.
Báo cáo đúng nên tách từng nước, nêu trạng thái, thời hạn còn lại và việc cần làm. Với Hàn Quốc, cần đại lý tại đó trả lời từ chối trong hạn và hợp đồng phân phối nên có điều khoản xử lý khi nhãn chưa được bảo hộ. Với Úc, kiểm lại trạng thái trên công cụ tra cứu và hỏi đại lý nếu cần chắc chắn.
Chứng minh quyền ở nước chỉ định khi cần dùng tới
Bảo hộ qua Madrid có giá trị như đăng ký quốc gia, nhưng khi cần dùng quyền ở nước sở tại, bạn sẽ gặp một câu hỏi rất thực tế: lấy giấy tờ gì để chứng minh. Sàn thương mại điện tử muốn mở gian hàng chính hãng, cơ quan hải quan khi ghi nhận nhãn để giám sát hàng nhập, toà án hay cơ quan xử lý vi phạm đều cần thấy bằng chứng nhãn được bảo hộ tại chính nước đó, không chỉ thấy số đăng ký quốc tế.
Thông thường, bản trích lục từ sổ đăng ký quốc tế, kèm tuyên bố cấp bảo hộ hoặc bằng chứng rằng nước đó không từ chối trong thời hạn, là bộ hồ sơ cơ bản. Một số nước có thủ tục để cơ quan nhãn hiệu nước đó cấp giấy xác nhận riêng cho đăng ký quốc tế đã được bảo hộ ở nước mình; có nơi bên thứ ba quen với giấy tờ quốc gia hơn giấy tờ của WIPO. Cách làm cụ thể ở từng nước nên kiểm với đại lý tại nước đó.
Vì thế, với những thị trường bạn biết chắc sẽ cần thực thi quyền, như nơi có sàn lớn hay có nguy cơ hàng nhái, hãy hỏi đại lý từ sớm xem cần chuẩn bị giấy tờ gì. Khi xảy ra vi phạm mới đi xin giấy thì thường chậm hơn đối thủ một bước. Phần nhãn hiệu trong hợp đồng xuất khẩu và trên sàn quốc tế có danh mục riêng trên trang này.
Những việc nên làm ngay sau khi có số đăng ký quốc tế
Có số đăng ký quốc tế là lúc bắt đầu quản lý từng nước chứ không phải lúc kết thúc. Một danh sách việc ngắn giúp bạn không bỏ sót.
- Lưu giấy chứng nhận đăng ký quốc tế và kiểm lại mẫu nhãn, danh mục, danh sách nước chỉ định có đúng như đã nộp không.
- Lập bảng theo dõi mỗi nước một dòng: ngày được thông báo, thời hạn từ chối áp dụng, trạng thái hiện tại.
- Đánh dấu những nước có yêu cầu riêng sau khi chỉ định, nếu có, để chuẩn bị tài liệu kịp thời.
- Xác định trước đại lý sẽ làm việc ở những nước quan trọng nhất, để khi có từ chối tạm thời không mất thời gian tìm người.
- Đặt lịch kiểm tra định kỳ trên công cụ tra cứu của WIPO, không chỉ chờ thư.
- Báo cho bộ phận bán hàng và đối tác đúng trạng thái từng nước, tránh cam kết vượt quá quyền đang có.
Cách đọc từng sự kiện trên công cụ tra cứu của WIPO và cách trả lời từ chối tạm thời có danh mục riêng trên trang này. Bài này chỉ dừng ở cơ chế: chỉ định là gì và nó sinh ra quyền như thế nào.
Câu hỏi thường gặp
Có giấy chứng nhận đăng ký quốc tế rồi thì nhãn đã được bảo hộ ở các nước chưa?
Chưa chắc. Giấy chứng nhận xác nhận đơn đã vào sổ đăng ký quốc tế và các nước được chỉ định. Mỗi nước còn tự thẩm định trong thời hạn 12 hoặc 18 tháng; bảo hộ ở nước nào phụ thuộc kết quả ở nước đó.
Một nước từ chối thì các nước khác có bị ảnh hưởng không?
Không. Mỗi nước chỉ định là một quyền riêng theo luật nước đó. Từ chối ở một nước chỉ ảnh hưởng nước đó, trừ trường hợp đăng ký cơ sở ở Việt Nam bị mất trong 5 năm đầu thì ảnh hưởng tất cả.
Nước chỉ định không gửi thông báo gì thì sao?
Ở nhiều nước, không gửi từ chối trong thời hạn được hiểu là nhãn được bảo hộ. Tuy vậy, nên kiểm lại trạng thái trên công cụ tra cứu của WIPO và hỏi đại lý tại nước đó nếu thị trường quan trọng.
Chỉ định thêm nước về sau thì bảo hộ tính từ ngày nào?
Với nước chỉ định sau, bảo hộ tính từ ngày ghi nhận chỉ định sau, không lùi về ngày đăng ký quốc tế gốc. Vì vậy nước quan trọng nên được chỉ định ngay từ đầu nếu có thể.
Quyền ưu tiên 6 tháng có áp dụng khi chỉ định qua Madrid không?
Có. Nếu đơn quốc tế khai quyền ưu tiên theo Công ước Paris dựa trên đơn Việt Nam nộp trong 6 tháng trước, thứ tự ưu tiên ở các nước chỉ định được tính theo ngày nộp đơn Việt Nam.
Khi có tranh chấp ở một nước chỉ định thì xử lý theo luật nào?
Theo luật của nước đó và tại cơ quan, toà án của nước đó. Madrid chỉ thống nhất thủ tục nộp và quản lý. Với tranh chấp, nên làm việc với đại lý hoặc luật sư tại nước đó.