TraNhanHieu.comTra Nhãn Hiệu
Nhãn hiệu trong hợp đồng xuất khẩu, phân phối và sàn quốc tế

Điều khoản nhãn hiệu trong hợp đồng phân phối với đối tác nước ngoài: cần viết gì

Hợp đồng phân phối với đối tác nước ngoài là chỗ nhãn hiệu Việt hay bị mất nhất. Bài liệt kê từng điều khoản nhãn hiệu nên có, cách viết và lỗi hay gặp.

Over-the-shoulder view of two businesspeople at a meeting table in a Da Nang office, sliding a blank folder across the wood, afternoon light, faces not visible

Một hợp đồng phân phối với đối tác nước ngoài cần ít nhất bảy nhóm điều khoản về nhãn hiệu: ai là chủ nhãn, ai đăng ký và đứng tên ở nước đối tác, phạm vi được dùng nhãn, cách trình bày nhãn, xử lý khi có người xâm phạm, việc trả lại mọi thứ mang nhãn khi chấm dứt, và luật áp dụng cùng nơi giải quyết tranh chấp. Thiếu nhóm nào, khoảng trống đó thường được lấp bằng cách hiểu có lợi cho bên đang nắm thị trường, tức là nhà phân phối.

Nhiều doanh nghiệp Việt ký hợp đồng phân phối theo mẫu đối tác gửi, dày vài chục trang về giá, giao hàng, thanh toán, còn nhãn hiệu chỉ có một câu kiểu "nhà phân phối được dùng nhãn hiệu của nhà cung cấp". Câu đó không sai, nhưng gần như vô dụng khi có chuyện. Bài này đi qua từng điều khoản theo thứ tự bạn sẽ cần đến chúng, kèm lỗi hay gặp, để bạn rà mẫu hợp đồng trước khi ký. Đây là thông tin phổ thông; hợp đồng giá trị lớn hoặc độc quyền nhiều năm nên được người làm nghề đọc lại.

Vì sao hợp đồng phân phối là nơi nhãn hiệu hay bị mất

Nhà phân phối độc quyền ở nước ngoài thường là người đầu tiên đưa nhãn của bạn tới tay người mua ở đó. Họ in tờ rơi, làm trang bán hàng, mở tài khoản mạng xã hội, đặt tên miền, tiếp xúc cơ quan quản lý sản phẩm. Trong mắt thị trường, sau vài năm, nhãn hiệu gắn với tên họ nhiều hơn với tên bạn. Nếu lúc này nhãn chưa được đăng ký ở nước đó, hoặc đã được đăng ký nhưng đứng tên nhà phân phối, bạn đang ở thế yếu khi hai bên chia tay.

Tranh chấp kiểu này hiếm khi bắt đầu bằng ác ý. Phần lớn bắt đầu bằng một khoảng trống: hợp đồng không nói ai đăng ký, đối tác tự đăng ký "cho tiện làm thủ tục", rồi nhiều năm sau quan hệ xấu đi và văn bằng trở thành con bài mặc cả. Khi đó, chứng minh rằng nhãn là của bạn vẫn có thể làm được ở nhiều nước, nhất là khi có quan hệ đại lý, phân phối rõ ràng, nhưng tốn thời gian và chi phí gấp nhiều lần so với việc viết đúng ngay từ đầu.

Vì vậy, điều khoản nhãn hiệu không phải phần phụ lục cho đủ thủ tục. Nó là phần quyết định ai giữ tài sản vô hình mà hai bên cùng xây trên thị trường đó. Đọc nó kỹ như đọc điều khoản thanh toán.

Bảy nhóm điều khoản nhãn hiệu và cách viết

Bảng dưới liệt kê các nhóm điều khoản nên có, nội dung cốt lõi của từng nhóm và lỗi hay gặp khi đọc mẫu hợp đồng do đối tác soạn. Cách diễn đạt cụ thể tuỳ luật áp dụng của hợp đồng.

Nhóm điều khoảnNội dung cốt lõiLỗi hay gặp
Xác nhận chủ sở hữuNhà cung cấp là chủ duy nhất của nhãn hiệu, kể cả mọi biến thể, bản dịch, phiên âm phát sinh trong thời gian hợp đồngChỉ liệt kê nhãn chính, bỏ quên tên dịch hoặc phiên âm đối tác tự đặt
Đăng ký ở nước đối tácAi nộp đơn, đứng tên ai, ai chịu chi phí, cam kết đối tác không tự nộp đơn cho nhãn giống hoặc tương tựKhông có câu cấm đối tác tự nộp đơn
Phạm vi được dùng nhãnQuyền dùng gắn với thời hạn hợp đồng, lãnh thổ, hàng hoá cụ thể; không phải chuyển nhượng, không được cho bên thứ ba dùng lạiViết chung "được dùng nhãn hiệu" không giới hạn
Trình bày và phê duyệtTheo bộ quy chuẩn nhận diện; ấn phẩm, bao bì địa phương, tên miền, tài khoản mạng xã hội phải được chấp thuận trướcKhông nhắc tên miền, tài khoản mạng xã hội
Xâm phạm và thực thiĐối tác báo ngay khi phát hiện hàng nhái; ai quyết định khởi kiện, ai chịu chi phí, ai hưởng bồi thườngĐể đối tác tự ý khởi kiện nhân danh mình
Chấm dứt và trả lạiNgừng dùng nhãn, chuyển giao tên miền, tài khoản, văn bằng (nếu lỡ đứng tên đối tác), xử lý hàng tồn trong thời hạn cụ thểChỉ ghi "ngừng sử dụng", không có thời hạn và danh mục tài sản
Luật áp dụng và tranh chấpChọn luật, chọn trọng tài hay toà án, ngôn ngữ bản gốcĐể mặc định luật và toà án nước đối tác mà không cân nhắc

Không cần viết dài mỗi nhóm. Một đoạn ngắn, rõ chủ thể và thời hạn, có giá trị hơn nhiều trang câu chữ chung chung.

Ai đứng tên, ai nộp đơn, ai trả tiền ở nước đối tác

Mặc định nên là bạn đứng tên. Văn bằng ở nước đối tác đứng tên doanh nghiệp Việt Nam, hoặc công ty con của bạn ở nước đó nếu có. Nhà phân phối có thể đứng ra làm thủ tục, thuê đại lý địa phương, trả trước chi phí, nhưng tư cách chủ đơn vẫn là bạn. Câu này nên viết thẳng trong hợp đồng, không để suy luận.

Cấm đối tác tự nộp đơn. Ghi rõ đối tác không được nộp đơn đăng ký, dù nhân danh mình hay qua người khác, cho nhãn trùng hoặc tương tự, cho tên dịch, phiên âm, logo biến thể, ở bất kỳ nước nào. Nếu đã lỡ nộp, đối tác có nghĩa vụ chuyển giao đơn hoặc văn bằng cho bạn không kèm điều kiện.

Chi phí có thể chia, quyền thì không. Đối tác muốn góp chi phí đăng ký vì họ hưởng lợi trên thị trường đó là đòi hỏi hợp lý. Có thể trừ vào giá hàng, chia theo tỷ lệ, hoặc hoàn lại khi chấm dứt. Điều cần tránh là để việc góp tiền biến thành lý do đòi đồng sở hữu văn bằng.

Đơn trước khi giao hàng đầu tiên. Tốt nhất là đơn ở nước đối tác được nộp trước lô hàng đầu, hoặc ít nhất trước khi đối tác bắt đầu quảng bá. Nếu bạn đã có đơn ở Việt Nam trong vòng sáu tháng, quyền ưu tiên theo Công ước Paris có thể giúp giữ ngày nộp sớm hơn.

Ghi trạng thái hiện tại vào phụ lục. Liệt kê nhãn đã đăng ký, đơn đang chờ, nước nào chưa nộp. Phụ lục này là bằng chứng hai bên cùng biết nhãn là của ai ngay từ ngày ký, rất có ích nếu sau này phải chứng minh ác ý.

Quyền dùng nhãn của nhà phân phối: viết cho đủ hẹp

Nhà phân phối cần dùng nhãn để bán hàng; vấn đề là dùng tới đâu. Một điều khoản quyền dùng tốt thường có các ý sau:

  • Quyền dùng là không độc quyền về nhãn, dù độc quyền về phân phối. Hai chuyện này khác nhau: độc quyền bán hàng trong lãnh thổ không có nghĩa là được độc quyền nhãn.
  • Chỉ dùng cho hàng do bạn cung cấp hoặc chấp thuận. Đối tác không được gắn nhãn của bạn lên hàng mua từ nguồn khác, kể cả hàng "tương tự".
  • Không được dùng nhãn làm một phần tên doanh nghiệp, tên miền, tên tài khoản mạng xã hội nếu không có chấp thuận bằng văn bản; nếu được chấp thuận thì tài sản đó phải chuyển giao khi chấm dứt.
  • Mọi ấn phẩm địa phương, bao bì phụ, bản dịch nhãn phải theo bộ quy chuẩn và gửi duyệt trước. Đây vừa là kiểm soát chất lượng, vừa là cách giữ bằng chứng sử dụng do bạn kiểm soát.
  • Đối tác ghi chú trên ấn phẩm rằng nhãn hiệu thuộc về bạn, ở dạng phù hợp với luật nước đó.
  • Quyền dùng chấm dứt tự động khi hợp đồng chấm dứt, không cần thông báo thêm.

Nếu đối tác cần văn bản riêng để làm việc với cơ quan quản lý hay sàn bán lẻ ở nước họ, cấp một thư chấp thuận có thời hạn, ghi rõ phạm vi, thay vì ký thêm hợp đồng li-xăng rộng hơn hợp đồng phân phối.

Khi có người làm nhái ở nước đối tác

Nhà phân phối thường thấy hàng nhái trước bạn, vì họ ở ngay thị trường đó. Điều khoản thực thi nên bắt họ báo cho bạn trong thời hạn ngắn, kèm ảnh, mẫu hàng, nơi bán. Việc quyết định có gửi thư cảnh báo, khiếu nại hành chính hay khởi kiện thuộc về bạn, vì đó là quyền của chủ nhãn và mọi văn bản pháp lý sẽ nhân danh bạn.

Nhiều nước cho phép bên được li-xăng độc quyền tự khởi kiện trong một số điều kiện. Nếu hợp đồng của bạn có yếu tố li-xăng, hãy viết rõ đối tác chỉ hành động khi có chấp thuận bằng văn bản, để tránh một vụ kiện nhân danh nhãn của bạn mà bạn không kiểm soát lập luận. Phần chi phí và tiền bồi thường thu được cũng cần chia rõ: ai ứng trước, ai hưởng.

Đối tác tốt sẽ sẵn lòng hợp tác vì hàng nhái lấy khách của chính họ. Điều khoản thực thi viết rõ còn giúp tránh tình huống ngược: đối tác tự mình gửi thư doạ kiện tới đối thủ, dùng tên nhãn của bạn, gây xung đột mà bạn không biết.

Điều khoản chấm dứt: viết từ ngày ký, dùng vào ngày chia tay

Phần chấm dứt nên được viết như một danh sách việc phải làm, có thời hạn cho từng việc. Thứ tự gợi ý:

  1. Ngừng dùng nhãn trên mọi ấn phẩm, cửa hàng trực tuyến, biển hiệu trong một số ngày cụ thể kể từ ngày chấm dứt.
  2. Chuyển giao tên miền, tài khoản mạng xã hội, gian hàng trên sàn có chứa nhãn hiệu về cho bạn hoặc người bạn chỉ định.
  3. Nếu đối tác đang đứng tên đơn hay văn bằng nào liên quan tới nhãn, ký giấy tờ chuyển nhượng về cho bạn; tốt nhất là chuẩn bị sẵn mẫu chuyển nhượng làm phụ lục ngay khi ký hợp đồng.
  4. Rút mọi ghi nhận li-xăng, ghi nhận với hải quan hoặc cơ quan quản lý sản phẩm đứng tên đối tác.
  5. Xử lý hàng tồn: bán hết trong thời hạn ngắn, bạn mua lại, hoặc tiêu huỷ có biên bản.
  6. Bàn giao danh sách khách hàng, hồ sơ đăng ký sản phẩm nếu hợp đồng có quy định.

Chi tiết từng bước khi thật sự chấm dứt được bàn trong bài riêng về thu hồi nhãn hiệu sau khi thôi hợp tác. Ở thời điểm ký, việc của bạn chỉ là bảo đảm danh sách này có mặt trong hợp đồng.

Luật áp dụng, nơi giải quyết tranh chấp và ngôn ngữ

Hợp đồng với đối tác nước ngoài cho phép hai bên chọn luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp, trong giới hạn của luật các nước liên quan. Lựa chọn hay gặp là trọng tài thương mại ở một trung tâm trung lập hoặc ở Việt Nam, vì phán quyết trọng tài dễ được công nhận ở nhiều nước hơn bản án toà án nước ngoài. Tuy nhiên, câu hỏi ai là chủ một văn bằng nhãn hiệu ở nước đối tác cuối cùng vẫn do cơ quan sở hữu trí tuệ và toà án nước đó quyết định theo luật của họ.

Vì vậy, điều khoản tranh chấp trong hợp đồng giải quyết được nghĩa vụ giữa hai bên, ví dụ nghĩa vụ chuyển nhượng văn bằng, bồi thường khi vi phạm; còn việc huỷ hay chuyển văn bằng thường cần thêm thủ tục tại nước đó. Viết nghĩa vụ chuyển giao thật rõ giúp bước sau nhẹ hơn nhiều.

Ngôn ngữ cũng quan trọng. Nếu có hai bản tiếng Việt và tiếng Anh, ghi rõ bản nào ưu tiên khi có khác biệt. Thuật ngữ nhãn hiệu, li-xăng, chuyển nhượng nên được dịch thống nhất trong toàn bộ hợp đồng; một chữ dịch lỏng có thể bị diễn giải thành chuyển quyền.

Khi nào nên nhờ người làm nghề đọc hợp đồng

Hợp đồng phân phối độc quyền nhiều năm, có cam kết doanh số lớn, có yếu tố li-xăng sản xuất tại nước đối tác, hoặc đối tác đề nghị đứng tên văn bằng, là những trường hợp đáng chi phí để luật sư hoặc tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp đọc lại trước khi ký. Họ sẽ đối chiếu điều khoản với luật nước đối tác, điều mà một bài phổ thông không làm thay được.

Khi làm việc với họ, hãy chuẩn bị sẵn danh sách nhãn đã đăng ký và đơn đang chờ ở Việt Nam và nước ngoài, mô hình hợp tác dự kiến, kế hoạch ra thị trường ba đến năm năm. Câu hỏi cụ thể giúp buổi làm việc ngắn và rõ: điều khoản nào trong mẫu của đối tác bất lợi, luật nước họ có cho bên phân phối quyền gì mặc định, có cần ghi nhận li-xăng ở cơ quan nhà nước nước đó không.

Nếu chưa có đơn nhãn hiệu ở Việt Nam làm cơ sở, hãy xử lý việc đó trước; thông tin về đơn trong nước có trên NhanHieuVietNam.com. Hợp đồng tốt mà nhãn chưa được đăng ký ở đâu cả thì vẫn chỉ là lời hứa giữa hai bên.

Câu hỏi thường gặp

Hợp đồng phân phối do đối tác soạn, có nên đề nghị sửa phần nhãn hiệu không?

Nên. Đề nghị bổ sung điều khoản nhãn hiệu là chuyện bình thường trong đàm phán quốc tế và đối tác làm ăn nghiêm túc hiếm khi phản đối. Nếu họ kiên quyết giữ quyền đứng tên văn bằng hoặc từ chối câu cấm tự nộp đơn, đó là tín hiệu bạn cần cân nhắc kỹ quan hệ này.

Độc quyền phân phối có phải là độc quyền nhãn hiệu không?

Không. Độc quyền phân phối nghĩa là trong lãnh thổ đó bạn chỉ bán hàng qua một đối tác. Nhãn hiệu vẫn thuộc về bạn, đối tác chỉ được dùng trong phạm vi hợp đồng. Hợp đồng nên ghi rõ sự khác biệt này để tránh hiểu nhầm về sau.

Đối tác đã tự đăng ký nhãn của mình ở nước họ trước khi ký hợp đồng thì sao?

Đưa vào hợp đồng nghĩa vụ chuyển nhượng văn bằng hoặc đơn đó về cho bạn, kèm thời hạn và phụ lục mẫu chuyển nhượng. Nếu đối tác không đồng ý, nên tìm hiểu các đường xử lý theo luật nước đó với người làm nghề trước khi tiếp tục giao hàng.

Có cần ghi nhận hợp đồng phân phối ở cơ quan sở hữu trí tuệ nước đối tác không?

Hợp đồng phân phối thường không phải ghi nhận. Nếu có điều khoản cho phép đối tác dùng nhãn theo kiểu li-xăng, một số nước yêu cầu hoặc khuyến khích ghi nhận li-xăng để có hiệu lực với bên thứ ba. Hãy kiểm với đại lý tại nước đó.

Hợp đồng chỉ có bản tiếng Anh có ổn không?

Hai bên có thể chọn một ngôn ngữ duy nhất. Điều quan trọng là người ký phía bạn hiểu đúng từng điều khoản nhãn hiệu. Nếu dùng song ngữ, ghi rõ bản nào ưu tiên và dịch thống nhất các thuật ngữ chuyển nhượng, li-xăng, chủ sở hữu.

Đối tác góp tiền đăng ký nhãn thì có được đồng sở hữu không?

Không nên. Góp chi phí có thể được bù bằng giá hàng hoặc hoàn lại khi chấm dứt. Đồng sở hữu văn bằng khiến mọi quyết định về nhãn ở nước đó phải có hai chữ ký, và khi chia tay sẽ rất khó tách.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.